h1

TIỂU THỪA, ĐẠI THỪA & KIM CƯƠNG THỪA.

17.04.2018

TIỂU THỪA – GIẢI THOÁT.

1

Tiểu thừa và những lời dạy trực tiếp từ Gautama Buddha thật giản dị, trực tiếp và thấm đẫm Tình yêu cho Con người. 

Trong Thực tại Người, để mang lại Hạnh phúc cho Con người không có gì cụ thể và trực tiếp hơn là làm cho Con người thấu hiểu Bốn Nguyên lý về Khổ: Thực tại Người là Khổ, Nguyên nhân của Khổ, Khả năng chấm dứt Khổ và Con đường Giải thoát khỏi Khổ! 

Có bốn loại Khổ. Khổ về Thể xác, thứ mà các con vật cũng biết và trốn chạy.  Thứ hai là Khổ về Tinh thần, loại Khổ phổ biến của con người. Con người gây ra và con người chịu đựng. Khổ Tinh thần đến từ các thứ Chủ nghĩa,  các loại Đạo đức, các tổ chức Tôn giáo, hôn nhân, văn hoá và văn minh…  những thứ tưởng nâng con người lên nhưng luôn đánh chìm con người trong nỗi Khổ. Chính sự lầm lẫn đồng hoá những thứ này mà con người say xưa, hăng hái, nhiệt tình, dâng hiến,… nhưng cũng chính sự lầm lẫn đồng hoá những thứ này mà con người lo lắng, sợ hãi, phiền muộn, tức tối, căm giận… Nguồn gốc loại Khổ này tới từ tăm tối, không Nhận biết đúng đã nhầm lẫn đồng hoá.

Loại thứ ba, Khổ đau do Thay đổi. Mọi sự vật, mọi sự việc, mọi hiện tượng, mọi kinh nghiệm và mọi sinh linh đều thay đổi; không có gì dài lâu. Một trải nghiệm là Hạnh phúc là thoải mái, tiếp sau đó là nhàm chán, là phiền phức, thậm trí là đi đến căm ghét. Khổ đã chứa sẵn trong mọi sự vật, mọi sự việc, mọi hiện tượng, mọi kinh nghiệm và mọi sinh linh. Nguồn gốc loại khổ này tới từ tăm tối, không Nhận biết đúng rằng mọi vật, mọi việc luôn thay đổi, không dài lâu.

Loại thứ tư, bao trùm mọi hoàn cảnh; mọi Thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai; mọi Thực tại, Thực tại Người, các Thực tại trên Người và dưới Người,… Nguồn gốc của loại Khổ này cũng tới từ Tăm tối. Tăm tối vì đã hiểu biết sai lầm; đồng hoá Sự sống với cái không phải nó, không thấy bản chất của Hiện hữu, bản chất cuả các Thực tại; không thấy được Tính Liên tục của Sự sống, tăm tối nên đã đứt đoạn Sự sống, rời rạc thành Cuộc sống Hai mặt đối lập; chia chẻ Tính Liên tục thành có Thiện có Ác, có Đẹp có Xấu, có ngắn có dài. Sự tăm tối này không phải chỉ có con người, kể cả thần linh, những Thực tại trên người. Vì Đúng sai, vì Thiện ác, vì Đẹp xấu mà con người Khổ đau. Sự Khổ đau vì tăm tối đã tha hoá trượt xuống cùng cực, khi có người nói rằng: Hạnh phúc là đấu tranh. Để tiêu diệt một cái, thì cần Năng lượng hận thù! Năng lượng đó một phần phát ra để tiêu diệt Kẻ thù, một phần nó tích tụ trong lòng kẻ đấu tranh. Nó tạo ung, tạo nhọt trong lòng kẻ đấu tranh; và hận thù thì thù hận đòi được trả. Đó chính là sai lầm của Cuộc sống. Karl Marx và học trò của ông ấy làm sao mà có thể Hạnh phúc khi dùng đấu tranh để tiêu diệt cái đối lập.

Tăm tối nên tạo ra Phiền não và Khổ.

Thấu hiểu Bốn nguyên lý về Khổ là bậc thềm đầu tiên bước vào Con đường Thoát khổ.

2

Sự sống là liên tục. Cuộc sống là đứt đoạn. Tâm trí hạn hẹp của Con người đã rời rạc và đứt đoạn Tính liên tục của Sự sống thành Hai mặt đối lập của Cuộc sống. Cuộc sống trở nên đứt đoạn vì cái này đối lập với cái kia. Khổ đau càng chồng chất Khổ đau khi Con người lầm lẫn đi giải quyết Mâu thuẫn của Hai cái đối lập. Khổ đau đã đẩy lên cao nhất khi Con người lầm lạc coi Lịch sử phát triển Nhân loại là Hành trình giải quyết Mâu thuẫn của Hai cái đối lập.

Tính liên tục của Sự sống được Gautama Buddha khái quát minh triết trong Mười hai Nhân duyên. Mười hai Nhân duyên là nền tảng chi phối Bốn nguyên lý về Khổ. Tất cả mọi sự vật, mọi sự việc, mọi hiện tượng, mọi kinh nghiệm và mọi sinh linh đều sinh ra từ tập hợp nhiều nguyên nhân và hoàn cảnh khác nhau; tất cả đều Liên thuộc và Tương đồng với nhau. Mười hai Nhân duyên bắt đầu từ Tăm tối, tới Hoạt động, tới Tâm trí, Hình dáng, Sáu giác quan, Giao tiếp, Cảm giác, Tình cảm, Sở hữu, Hiện hữu, đi tới Sinh và tới Chết. Xuôi theo vòng Mươi hai mối quan hệ là quá trình luân chuyển Ô nhiễm; ngược theo vòng là quá trình Làm sạch diệt trừ Ô nhiễm.

Tăm tối, thiếu hiểu biết chính mình mà Con người đã lầm lẫn đồng hoá Bản thể của chính mình vào những cái không phải; đó là danh vọng, tiền bạc, quyền lực, dục vọng, luật lệ lề thói, giáo lý giáo điều, đạo đức xã hội,… Tất cả những lầm lẫn đồng hoá này đã đẩy sự vật này, sự việc này, hiện tượng này, kinh nghiệm này, sinh linh này,… đối lập với sự vật kia, sự việc kia, hiện tượng kia, kinh nghiệm kia, sinh linh kia,…

Hiểu được Tính liên tục của Sự sống thông qua nguyên lý Mười hai Nhân duyên, bắt đầu từ Tăm tối thiếu hiểu biết, Con người bước lên bậc thềm thứ hao Con đường Thoát khổ.

3

Cùng với Trao truyền về Bốn nguyên lý về Khổ và nguyên lý Mười hai Nhân duyên, Gautama Buddha trao truyền Ba mươi bảy Nguyên tắc thực hành. Bắt đầu bằng Bốn căn bản về Tỉnh thức: Cơ thể, Cảm nhận, Tâm trí và Sự vật; rồi Bốn Nỗ lực: với việc ác đã sinh, chưa sinh, với việc thiện đã sinh và chưa sinh; Bốn Hành động: từ Ước nguyện, tới Tinh tiến, Chú tâm và Quán trí; Năm kỹ thuật: Tín, Tiến, Niệm, Định và Tuệ; Năm Sức mạnh; Tám Con đường đúng và Bảy Thành tựu: Nghĩ đúng đắn, Quán xét đúng đắn, Nỗ lực đúng đắn, Vui vẻ đúng đắn, Tâm nhẹ nhành, Tâm an định, Tâm bình đẳng.

Thấu hiểu Bốn nguyên lý về Khổ, thấu hiểu nguyên lý Mười hai Nhân duyên, rồi thực hành Ba mươi bảy Nguyên tắc Thực hành giúp Con người Thoát Khổ, giúp Con người Giải thoát.

Đó là Căn bản Giáo lý của Tiểu thừa mà Gautama Buddha đã trao truyền; trao truyền để Thoát Khổ, để Giải thoát. 

Con đường của Gautama Buddha thật đơn giản và minh triết.

 

ĐẠI THỪA – GIÁC NGỘ.

1

“Lời dạy trong Đại thừa, có lẽ được Gautama Buddha truyền lại trong bối cảnh hoàn toàn vượt thoát mọi khái niệm hiểu biết thông thường về Không gian và Thời gian”. 

Đó là lời của Dalai Lama. Người có thẩm quyền để nói về điều này.

Sau khi Gautama Buddha rời khỏi Trái đất, những Người học trò đã ba lần ôn lại các lời dạy của Buddha rồi tập hợp lại thành các sách Kinh; nhưng một điều chắc chắn lời dạy trong Đại thừa không có trong những bộ sách Kình này. 

Lời dạy của Gautama Buddha trong Đại thừa đã đến bằng cách khác, truyền thừa thông quá các vị Bodhisattva. 

2

Cùng với lời dạy của Gautama Buddha, các học trò của ngài, cũng đóng góp không ít trong nền tảng của Đại thừa. Bắt đầu bằng Long Thọ, Nagarjuna thế kỷ thứ 2; rồi tiếp đến năm vị khác là  Thánh Thiên, Aryadeve; Vô trước, Asanga; Thế Thân, Vasubandhu; Trần na, Dignaga; Pháp Xứng, Dharmakirt,… và nhiều người khác nữa.

Tinh tuý của Đại thừa là Tâm kinh. Đại thừa và Tâm kinh dạy về Tính không; nói về cái Không trong Sự sống, trong Thiên nhiên, trong Thượng đế và trong Con người. Trực nhận được Tính không là khi Người Tìm kiếm Nhận biết được Sự sống, Nhận biết được Thiên nhiên, Nhận biết được Thượng đế và Nhận biết được Bản thân; người đó Giác ngộ.

Căn bản của Đại thừa là Giác ngộ, Nhận biết được Tính Liên tục của Sự sống.

 

ĐẠI THỪA – TÍNH KHÔNG.

1

Khoa học của ngày hôm nay, trên nền tảng của 5 giác quan đã biết về Vật chất và Năng lượng ở mức 5%; Khoa học nhận thức được rằng còn 95% Vật chất tối và 95% Năng lượng tối chưa biết tới.

Tất cả Hình dáng đều Không. Con số: 99,9999999999999% này là của Lý thuyết Siêu dây, String Theory, nó nói rằng tất cả mọi vật chất, là đá, là sắt, là đồng, là Trái đất hay Mặt trời… tất cả đều rỗng, đều trống rỗng như vậy. 

Mọi hình dáng mà con người nhìn thấy, phải chăng là Tâm trí diễn giải. 

Tất cả đều chuyển động; mọi sự vật, mọi sự việc, mọi hiện tượng, mọi kinh nghiệm và mọi sinh linh đều chuyển động; sự chuyển động xảy ra cả bên ngoài và bên trong. Trong tế bào, trong nguyên tử, trong các hạt cơ bản, yếu tố nhỏ nhất (mà Khoa học có thể mường tượng ra) vẫn chưa thấy được là String, nó vẫn luôn chuyển động.

Do chuyển động, chuyển động cả bên ngoài và bên trong nên tất cả mọi sự vật và mọi hiện tượng không thể dài lâu, không phải mãi mãi, Vô thường. Sinh ra và chết đi là quy luật chung. 

Sự sinh ra, tồn tại, phát triển và chết của mọi sự vật, mọi sự việc, mọi hiện tượng, mọi kinh nghiệm và mọi sinh linh đều bắt nguồn ra từ tập hợp nhiều nguyên nhân và hoàn cảnh khác nhau. Tất cả đều Liên thuộc với nhau. Vì Liên thuộc vào nhau nên mọi sự vật, mọi sự việc, mọi hiện tượng, mọi kinh nghiệm và mọi sinh linh đều không có Tự tính.

Tất cả đều khác nhau trên nền tảng của sự giống nhau; tất cả đều giống nhau trên muôn mặt khác nhau. Tất cả đều Tương đồng. Vì Tương đồng nên mọi sự vật, mọi sự việc, mọi hiện tượng, mọi kinh nghiệm và mọi sinh linh đều không thiếu, không đủ, không đẹp, không xấu và đều không có Đặc tính. 

Cái Đặc tính đã được đặt ra, là do Tâm trí của con người…

2

Thứ Triết học của Tính không như thế, hoặc nhiều hơn nữa chỉ là bước khởi đầu để Hiểu về Tính không. Con đường đi tới Nhận biết về Tính không là: Hiểu, Cảm nhận, Thấy, Biết và Không.

Hiểu được về Tính không thông qua Tri thức, con người đã phần nào mở lòng hơn, biết được rằng không cần phải tham, không phải sợ hãi, bớt tức tối,… Tiếng Sanskrit gọi giai đoạn này là Sambhara Marga, tiếng Anh là Path of Accumulation.

Giai đoạn thứ hai Cảm nhận, Tiếng Sanskrit gọi giai đoạn này là Prayoga Marga, tiếng Anh là Path of Preparation; Thông qua Thiền và trăn trở khát khao Biết về Tính không những khái niệm thu nhận được từ Tri thức rơi dần, người Tìm kiếm dần Cảm nhận rõ hơn về Sự sống, về Thiên nhiên, về Thượng đế và về Con người; người đó thấy Con người khác và thấy Thiên nhiên Đẹp hơn, vì người đó đã bắt đầu Biết Yêu.

Giai đoạn thứ ba là Thấy, Tiếng Sanskrit gọi giai đoạn này là Darsana Marga, tiếng Anh là Path of Seeing; đi sâu vào cùng Thiền, Người Tìm kiếm rũ bỏ hết những khái niệm thu nhận từ Tri thức. Người Tìm kiếm bắt đầu tách rời các định kiến, người đó thấy Tự do hơn, người đó trở nên Mở, nhiều hơn năm giác quan. Người đó Thấy được một số điều, không phải là Toàn bộ. Cái Thấy là riêng biệt với từng người, không phải là phổ quát chung. Nhưng Sự sống rõ dần lên; người đó thấy được rằng giữa người đó với với Con người khác, với Thiên nhiên là Một không tách rời; Tình yêu của người đó ngày một tràn đầy lên. Có vài khái niệm về Thấy: Người Đa giác quan, người đó Thấy được nhiều thứ không phải từ năm giác quan thông thường; Người Đa thực tại, người đó sống trong Thực tại người, nhưng người đó có thể Thấy được một số điều từ Thực tại trên người và dưới người; Người Không thời gian, người đó sống trong Hiện tại, nhưng người đó Thấy được nhiều điều từ Quá khứ và nhiều điều từ Tương lại,… Nhưng tất cả những cái Thấy chỉ là phân mảnh, không phải cái Toàn bộ. Thấy chỉ là phản ứng phụ của Người Tìm kiếm trên Con đường đang đi. Người Tìm kiếm sẽ lầm lẫn nếu tưởng rằng cái là cái Bất toàn, là cái Phân mảnh mà người đó Thấy là cái Toàn bộ, là Chân lý; thì sự lầm lẫn tăm tối này còn khủng khiếp hơn, vì người đó dễ mắc kẹt tại đó.

Giai đoạn thứ tư là BIẾT, Tiếng Sanskrit gọi giai đoạn này là Bhavana Marga, tiếng Anh là Path of Meditation. Có phải chăng với Người Tìm kiếm lúc này các loại Phiền não, Khổ đau, sân hận, tức tối, tham đắm,… đã rời xa người đó, Tình yêu với Con người với Thiên nhiên và Sự sống trở nên mãnh liệt; có phải chăng là người đó đã BIẾT được Sự sống, Thiên nhiên, Thượng đế và Con người duy nhất chỉ là một Bầu trời đồng nhất với chính nó. Cái người đó đã từng Thấy, đã từng Cảm nhận, đã từng Hiểu, đã từng yêu, đã từng ghét, đã từng tranh đấu, đã từng chết vì những điều đó; hoá ra là không phải. Tất cả xụp đổ với Người Tìm kiếm vào Thời điểm đó.

Đó là thời điểm Người Tìm kiếm bước vào giai đoạn KHÔNG, Tiếng Sanskrit gọi Asaiksa Marga, tiếng Anh là Path of No more learning. Người đó Chứng ngộ. Không thể viết gì về điều này được.

 

ĐẠI THỪA – TỪ BI.

1

Tình yêu Đôi lứa Trai gái có Điều kiện, vừa cho vừa nhận; trong dâng hiến,  dù dâng hiến tất cả, vẫn có khát khao nhận; nhận được điều: người mình trao tặng biết được điều mình đang dâng hiến. Tình của Mẹ, không còn có Điều kiện cho và nhận, nhưng có Đối tượng; đối tượng làm hại con của Mẹ thì không thể có Tình yêu từ Mẹ. Tình yêu Thày trò trong Tôn giáo có Quan hệ, học trò sẵn sàng chết vì thày, thày hết lòng vì trò; khác tông phái điều đó là không dễ để xảy ra. Lòng tốt có Mục đích, cái con người thường lầm lẫn với Tình yêu.

Từ bi là Hợp nhất tất cả các Tình yêu và Siêu việt;  không Mục đích, không Điều kiện, không Đối tượng, không Quan hệ; đơn giản là Hành động, là tuôn chảy khi tràn đầy.

2

Từ bi đến từ đâu?

Từ bi và Tình yêu không thể trao dồi để có, không thể tập luyện để có. Thứ trao dồi, tập luyện là thứ của cơ bắp, của thói quen, của tâm trí,… 

“Này các anh chị em ơi, tôi yêu các anh chị em lắm, tôi gửi tình yêu đến anh chị em mỗi ngày”. Đó là khẩu hiểu của những người có Lòng tốt, nhưng chưa biết Yêu. Người biết Yêu, họ không ý thức được mình đang Yêu, họ không hô to như thế; đơn giản họ thấy hân hoan, họ thấy Bản thân họ và Con người khác thật đẹp và Thiên nhiên cũng thật đẹp; nếu có la lên, họ nói rằng: Sự sống thật tươi đẹp và tôi Hạnh phúc quá… Người hô to lên tôi yêu mọi người, là người đang có mục đích.

Thực tập Yêu nhiều, con người đỡ sân hận hơn. Thực tập Yêu nhiều, người đó gửi vào Thiên nhiên những rung động hài hoà êm đềm, rung động đó hấp dẫn những rung động tương tự đến với họ. Người thì gọi quy luật này là Luật Hấp dẫn, người khác thì gọi là Luật Nhân quả; Nó là Luật của Thiên nhiên, của Vũ trụ, của Sự sống; nhưng không có một Thượng đế nào cân đong để thưởng hoặc phạt theo Quy luật này cả. Luật Nhân quả, hay Luật Hấp dẫn đảm bảo cho Người Tìm kiếm đi tới Trưởng thành trong quá trình Phát triển.

3

Và… Từ bi đến từ Nhận Biết; Nhận Biết tính Liên tục của Sự sống, Nhận Biết Tính không. Con đường đi tới Nhận biết về Tính không là: Hiểu, Cảm nhận, Thấy, BIẾT và KHÔNG. Hiểu chưa thể Siêu việt Tình yêu thành Từ bi. Cảm nhận là bậc thềm đầu tiên. Thấy là bước đi lên, nó chưa tới Độ cao của Chuyển hoá. BIẾT là sự Chuyển hoá hoàn toàn, là Siêu việt.

Trong Thực tại của Hai cái đối lập sợ hãi, giận dữ, bạo hành, căm ghét giúp cho Con người tồn tại. Sợ hãi giúp con người tranh xa nguy hiểm. Giận dữ và căm ghét bảo vệ người đó trước những hiểm nguy. Và bạo hành mang người đó vào vòng tròn chống lại bạo hành của người khác. Thực tại này đang là vậy. Tương tự, tham đắm và say mê giúp con người có mặt. Tương tự hoài nghi và suy nghĩ giúp con người đạt được điều họ ước vọng,…

Nhưng nếu người đó Nhận biết về Bản thân về Sự sống thì Chuyển hoá sẽ xảy ra. 

Nhận Biết rằng Sự sống này Liên thuộc và Tương đồng. Vậy thì không thể có cái này đối nghịch với cái kia, vậy thì không cần đấu tranh tiêu diệt cái đối lập, vậy thì không còn sợ hãi, giận dữ, bạo hành, căm ghét và hoài nghi,… Năng lượng sẽ còn đó, nó Chuyển hoá thành Bạo dạn, Trìu mến, Thân thiện và Bao dung.

Nhận Biết rằng Sự sống này Vô thường và Không có Tự tính. Vậy thì không thể tham đắm, không thể say mê. Vậy thì không thể hoài nghi lo lắng và suy nghĩ. Năng lượng không mất đi cho những điều như thế. Không mất cho say mê và tham đắm, còn đó và Chuyển hoá thành An nhiên, thành Tự do. Vậy thì không thể hoài nghi và suy nghĩ. Năng lượng không mất đi cho những điều như thế. Không mất cho hoài nghi và suy nghĩ, còn đó và Chuyển hoá thành Tin cậy và Hành động.

Bạo dạn, Trìu mến, Thân thiện, Bao dung, An nhiên, Tự do, Tin cậy và Hành động,.. là những phẩm chất của Từ bi.

Cùng với Tính không, Từ bi là thuộc tính thứ hai của Đại thừa. Để Giác ngộ, Người Tìm kiếm có hai điều kiện, Điều kiện Cần: Nhận Biết Tính không, Điều kiện Đủ: Từ bi bừng nở và tỏa hương.

 

KIM CƯƠNG THỪA – KHÁT KHAO VÀ CHÂN LÝ.

1

Krishnamurti nói: càng Khát khao Chân lý sẽ càng dời xa Chân lý. 

Gautama Buddha Từ bỏ ngai vàng để đi vào Con đường Tìm kiếm; Ngài đã Không thấy được điều gì. Ngài chỉ thấy được Ánh sáng khi ngồi xuống gốc Bồ đề và Từ bỏ Tìm kiếm. 

Ngày hôm nay; các Đạo sư Thời đại Bảo bình, như Krishnamurti, Osho, Eclhart Tolle, Adyashanti,… dường như đã đi tới Ánh sáng, đi tới Chân lý theo cùng cách thức như vậy. Không còn Khát khao nữa; ngay cả Khát khao Ánh sáng, Chân lý và Chứng ngộ. Ánh sáng, Chân lý và Chứng ngộ chỉ đến khi Người Tìm kiếm buông bỏ hoàn toàn. Khát khao và Chân lý là ngược chiều nhau; không cùng chỗ với nhau. 

Sau Khát khao luôn có một Cái Tôi ẩn sâu; không còn Cái Tôi là không còn Khát khao.

Khát khao và Chân lý là Mâu thuẫn Nền tảng.

2

Mâu thuẫn Nền tảng này đã được Gautama Buddha giải quyết một cách Siêu việt. 

Trong Kim cương thừa, Ngài trao truyền với học trò rằng hãy Khát khao đi; có Khát khao sẽ Thấy Chân lý. Nhưng, đó là thứ Khát khao Thấy Chân lý để phục vụ Chúng sinh. Thứ Khát khao vì Chúng sinh và cho Chúng sinh! 

Khát khát được đẩy lên mức cao nhất, phải Chứng ngộ, phải Biết được Chân lý ngay trong Kiếp sống này; để ngay trong Kiếp sống này có thể phục vụ Chúng sinh, phục vụ Sự sống một cách tức thời và hiệu quả. Không Chứng ngộ, không Biết được Chân lý sự phục vụ giúp đỡ Con người thực sự chỉ thỏa mãn được Tâm trí, thỏa mãn được Cái Tôi của cả hai, kể giúp đỡ và người được giúp đỡ.

Đó là khát khao của một Bodhisattva.

 

KIM CƯƠNG THỪA – 

CON ĐƯỜNG CỦA BODHISATTVA.

1

Có một người, Người đó đã Chứng ngộ, Người đó Thăng lên. Cổng Thiên đường lung linh Ánh sáng, Âm nhạc du dương, ngàn hoa sắc màu rực rỡ buông lơi; các Buddha hoan hỷ ra Cổng đón chào; Người đó chấp tay, cúi đầu và xin Từ chối vào Thiên đường. Từ chối vào Thiên đường quay lại Thế giới này giúp đỡ Chúng sinh. Bodhisattva đẹp như một Bài thơ.

Đi vào Con đường Bodhisattva không chỉ như vậy, không chỉ đẹp như một Bài thơ. Hơn thế, đi trên Con đường Bodhisattva cần đến Sự Dũng mãnh của Sư tử và Sự Hào hùng của Ngựa Chiến. Bởi lẽ, là một Bodhisattva, Người đó đã Từ chối vào Thiên đường không phải chỉ Kiếp đời này, mà cho mọi Kiếp đời của mình, từ nay trở đi; Người đó nguyện là người cuối cùng bước vào Thiên đường. Không có sự Dũng mãnh và Hào hùng, Người đó đi được mấy kiếp đời; nguyện ước ấy kéo dài được bao lâu.

Trong Vajracchedikā-Prajñāpāramitā Sūtra, Gautama Buddha giảng cho các Bodhisattva, mở đầu mỗi đoạn Ngài thường nói rằng: 

“Này các ông, hãy chú ý và lắng nghe cho rõ…”

Các Bodhisattva, những Sinh linh Thượng đẳng, Trí Huệ tuyệt hảo vẫn cần phải chú ý, vẫn cần phải lắng nghe cho rõ! Bởi lẽ, sẽ không dễ dàng để NEO lại trong Thân phận của một Con người, Chia xẻ các Quy luật của Sự sống trong Hiện sinh của mỗi Kiếp đời; nhất là khi Người đó có thể BƯỚC Qua Bờ bên kia, Nỉrvana. Và rồi điều đó lại xảy ra cho muôn mọi Kiếp đời. Cái hấp dẫn của Thiên đường thôi thúc mọi Kiếp đời trong Hiện sinh Khổ đau.

Người Tìm kiếm đi vào Con đường Bodhisattva và đi vào Kim cương thừa  chắc chắn phải Thấu hiểu và Nhận biết sâu sắc điều này: Linh thiêng và Khó khăn!

Có nhiều phương pháp, có nhiều kỹ thuật thực hành trong Kim cương thừa. Tất cả liệu có ích gì, nếu không Thấu hiểu và Nhận biết sâu sắc sự Linh thiêng và Khó khăn của Con đường Bodhisattva. Tất cả liệu có ích gì, nếu không Thấu hiểu và Nhận biết sứ mệnh Khắc nghiệt và Dài lâu của một Bodhisattva.

2

Một Bodhisattva và một Thiên thần là khác nhau. 

Nếu phải chăng Thiên thần mang hương, mang hoa, mang âm nhạc, mang màu sắc, mang những rung động thanh cao đẹp đẽ đến cho Cuộc sống này; cảm thông với con người giúp cho con người đỡ buồn hơn, đỡ khổ hơn; thì Bodhisattva dường như không phải vậy. Ông ấy không cứu khổ cứu nạn cho con người theo cách hiểu nông cạn tầm thường, như: cho tiền, giải hạn, tránh tù tội, vượt qua bệnh tật, hay làm con ma tự do như một kẻ quan chức mới bị đi tù ước ao… Ông ấy cũng không diệt ác trừ gian. Điều ông ấy làm lớn lao hơn là an ủi con người, lớn lao hơn là giúp cho con người giảm bớt chút buồn khổ.

Ông ấy giúp con người trải nghiệm Sự sống trong tính Liên tục của nó; ông ấy giúp con người Nhận biết rằng thiện và ác, đẹp và xấu, tích cực và tiêu cực, dài và ngắn, trong và đục,… tất cả đều đều tồn tại, đều tương tác hữu cơ với nhau, tạo ra nhau, hủy diệt nhau, giúp nhau phát triển, giúp nhau suy tàn; ông ấy giúp con người Nhận biết rằng tất cả các sự vật, sự việc, hiện tượng, quy luật, sinh linh,… đều khác nhau trong cái giống nhau, tất cả đều giống nhau trên muôn mặt khác nhau. Và tất cả đều là đối tượng của Nhận biết. Khi đã Nhận Biết được quy luật này trong các chiều kích của nó, từ Hiểu, tới Cảm nhận, Thấy và Biết thì Con người đã tự Giải thoát được mình khỏi sợ hãi, giận dữ, bạo hành, căm ghét, tham đắm, say mê, suy nghĩ và hoài nghi; Nghiệp, karma đã rời xa họ. Cái Ác, cái xấu, cái tiêu cực sẽ được Chuyển hoá, Thiên nhiên sẽ Thay đổi. Và Người Tìm kiếm sẽ đi tiếp tới cái Không, hoà nhập Con người mình vào Đối tượng Nhận biết và đồng nhất cùng Bầu trời, đi tới Giác ngộ.

Đó là hành động của Bodhisattva.

 

KIM CƯƠNG THỪA – 

KALACHAKRA MẬT PHÁP CỦA THIÊN THẦN.

1

Theo truyền thống, một năm sau ngày Chứng ngộ, Gautama Buddha đã phân thân làm hai, cùng lúc trao truyền Tâm kinh và trao truyền Kalachakra tại hai nơi khác nhau. Kalachakra được trao truyền theo lời thỉnh cầu của Dawa Zangpo, quốc vương sứ Shambala. 

Quốc vương Dawa Zangpo sau khi nhận pháp quán đảnh và mật kinh Kalachakra cùng tùy tùng quay trở về Shambala; họ đã thiết lập Kalachakra là Đạo duy nhất của vương quốc. Sáu trăm năm sau, vị quốc vương kế thừa, là tổ sư dòng Kulika tên Manjushrikirti, trong một lần trao truyền Kalachakra cho 35 triệu hiền giả; ngay sau buổi truyền pháp đó hàng triệu hiền giả đã thoắt Chứng ngộ.

Shambala là một Thực tại cao hơn Thực tại Người, có phải chăng Thực tại của những Thiên thần? Kalachakra là Tantra cho những Thiên thần?

2

Khi trao truyền Kalachakra cho quốc vương Dawa Zangpo, Gautama Buddha cũng đồng thời truyền Mật kinh Kalachakra, dài đến hàng trăm ngàn câu tụng. Sáu trăm năm sau, vua Manjushrikirti kế thừa mật pháp, thâu ngắn Mật kinh Kalachakra thành bộ Mật kinh Cô đọng, Condensed Tantra of Kalachakra. Manjushrikirti lại có vị đệ tử tên Kundarika, hay Pema Karpo, cũng là vị quốc vương truyền thừa dòng Kulika, dựa trên bộ Mật kinh Cô đọng mà viết ra bộ luận giải. Bộ luận giải này ngày nay được biết dưới tên Ánh sáng không nhiễm, Stainless Light, có tất cả ba quyển. 

Đó là hai tài liệu quan trọng nhất của Kalachakra.

Mật kinh Kalachakra dạy về Vũ trụ và Con người thông qua các Dòng Thời gian, là các Chu kỳ của Vũ trụ, Chu kỳ các Hành tinh, Chu kỳ các Hạt Không gian (thứ nhỏ nhất) của Vật chất, Chu kỳ các Kinh mạch trong Cơ thể, Chu kỳ Hơi thở,… 

Về Cơ thể người, Mật kinh Kalachakra đưa ra 4 khái niệm: các Luân xa chính, Chakras; Kinh mạch chính, hai kinh mạch hai bên và các kinh mạch nhỏ, Channels; các Giọt Tinh chất, Drops; và các Luồng Khí bên trong, Inner Winds. Các Luân xa dường như đã đi đến chiều khác với cấu trúc thông thường, đi tới chiều cao hơn Thực tại người, bắt đầu đi xuống; không phải cái cao nhất là nằm trên đầu; cái quan trọng nhất là nằm ơ dưới.

Kết hợp những khái niệm cấu trúc Cơ thể và các Chu kỳ Cơ thể với Chu kỳ Vũ trụ, Kalachakra dạy cách luyện tập để những Năng lượng tinh tế nhất trong Cơ thể, có thể đưa Thực thể đó phát triển trên Con đường dẫn đến không lệ thuộc Thời gian, Không Thời gian và Giác ngộ.

3

Kalachakra đã được đưa trở lại Trái đất từ Shambala vào khoảng thế kỷ thứ 10. Có hai vị thầy India đã đến Shambala bằng hai đường khác nhau; mỗi người có một trải nghiệm riêng về Thực tại này. Họ đã đón nhận sự trao truyền đầy đủ về Kalachakra; sau khi trở lại, họ đã phát triển ở India theo cách thức gần như giống nhau. 

Sau khi vào India, phát triển tại các Tu viện vùng đồng bằng Ganges, Kalachakra đã truyền tới Kashmir, rồi đến miền đông bắc Mayannma, Malaysia và Indonesia trước thế kỷ 14. Thế kỷ 17 phát triển sang Mongolia, thế kỷ 19 phát triển sang Russia. Tại Tibet, thế kỷ 11 tới 13 các dòng Truyền thừa chính  Sakyapa, Kagyupa, Guélugpa và Nyingma đã tiếp nhận và phát triển cho đến ngày nay. 

Có phải chăng Hiện tại đang là Thời điểm chuyển thời, từ Thời đại Song ngư sang Thời đại Bảo bình; khi mà tất cả các Tần số dao động của mọi vật, mọi việc, mọi hiện tượng, mọi sinh linh,… đang tăng lên, tăng lên có gia tốc; mà Kalachakra, Mật pháp của các Thiên thần, thứ trước đây chỉ mật truyền trên núi cao cho một số rất ít người có cơ duyên, này được giảng ở ngay cả những đô thị sầm uất như Washington DC, USA; công truyền cho số đông, mà không e ngại những phản ứng phụ cho người được trao truyền.

 

KIM CƯƠNG THỪA – 

KALACHAKRA CHUYỂN HOÁ CƠ THỂ TÂM THỨC.

1

Không chỉ là văn bản kín và những kỹ thuật tu tập trong Mật kinh Kalachakra,   Kalachakra thực sự còn bao gồm một Dòng Năng lượng Kalachakra truyền thừa mạnh mẽ, liên tục trong Không gian.

Dòng Năng lượng này đã được khơi đầu từ Gautama Buddha tạo ra hơn hai ngàn sáu trăm năm trước và liên tục được nuôi dưỡng, tiếp nối, bổ sung và truyền thừa không đứt đoạn bởi hàng chục, hàng trăm triệu(?) những Thực thể đã và đang Giác ngộ của Thực tại Shambala; của hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn(?) những Lamas, những Repochies, những Gurus,… trên Trái đất này.

Dòng Năng lượng linh thiêng và mạnh mẽ.

2

Người Tìm kiếm lưu nhập vào Dòng Năng lượng Kalachakra và thực hành phải tiến hành ba nghi lễ. Nghi lễ thứ nhất: Quy y. Một thủ tục làm thanh sạch tâm để cho phép Người Tìm kiếm lưu nhập vào Dòng Năng lượng Kalachakra.

Nghi lễ thứ hai: Quán đảnh. Cho phép Người Tìm kiếm được biết về cấu trúc của Dòng Năng lượng Kalachakra đang tồn tại trong Không Thời gian; những Chu kỳ của Thiên nhiên, của Vũ trụ, của các Hành tinh và của cả những yếu tố nhỏ nhất tạo ra thế giới vật chất, gọi là Hạt Không gian, The Space Particles…

Nghi lễ thứ ba: Gia trì. Cho phép Người Tìm kiếm được biết mật mã để có thể hoà nhập vào Dòng Năng lượng Kalachakra làm Chuyển hoá Cơ thể, Tâm thức và đạt tới Giác ngộ. Chìa khoá mật mã là sự Tương đồng giữa Con người và các Vì sao, giữa các Luồng Khí bên trong, Inner Winds với Chu kỳ vận hành của các Hành tinh, và hơn thế nữa…

3

Quá trình Chuyển hoá Cơ thể và Tâm thức được vận dụng nguyên lý Tương đồng và Liên thuộc giữa Bên trong con người và Thiên nhiên Vũ trụ. Là một Con người nhỏ bé giữa Thiên nhiên, giữa Vụ trụ đa chiều mênh mông; thực hành theo Kalachakra, Người Tìm kiếm đã hoá hiện thành Thiên nhiên, thành Vũ trụ, thành Sự sống. Và Sự sống liên tục, Thiên nhiên hài hoà, Vũ trụ đa tầng đã hội tụ vào trong Cơ thể, trong Tâm thức của một Con người.  Kalachakra đã đưa Sự sống liên tục, Thiên nhiên hài hoà, Vũ trụ đa tầng được diễn tả qua hình ảnh của Đấng Đạo sư hoà từ và phẫn nộ với bốn đầu, mỗi đầu ba mắt, bốn thân và hai mươi bốn tay với bốn màu đỏ, trắng, vàng và xanh, một Kalachakra Mandala, một Cosmic Buddha vào trong một Con người.

Trong Trạng thái An lạc Bất động cao nhất, Con người đó Nhận Biết được Tính không; Cơ thể và Tâm thức Chuyển hoá; Con người đó Nhận Biết Sự sống, Nhận Biết Thiên nhiên, Nhận Biết Vũ trụ, Nhận Biết Bản thể mình; Con người đó Giác ngộ.

4

Dalai Lama là bậc thầy cao cả nhất trao truyền Kalachakra. 

Các dòng Sakyapa, Kagyupa, Nyingma và Guélugpa đều có trao truyền về Kalachakra. Nhưng khi Dalai Lama trao truyền Kalachakra, thì các guru đứng đầu các dòng truyền thừa khác đều tham dự; không chỉ vì Dalai Lama là người lãnh đạo tinh thần cao nhất, mà còn vì Dalai Lama trao truyền Kalachakra linh thiêng nhất. Điều này có lí do lịch sử, có lý do từ những kiếp tái sinh trước đây, Lama đã có những quan hệ linh thiêng với Kalachakra.

Tháng 1 năm 2017 tại Bodh Gaya, ở quận Gaya, Bihar, India Dalai Lama đã trao truyền Kalachakra lần thứ 34, có khoảng nửa triệu người tham dự.

h1

Cảm nhận về Thượng đế.

29.06.2015

image

Khoảng khắc Con người ý thức về Thượng đế, cũng là khoảng khắc Con người nhận thức được Hành trình sáng tạo và hoàn thiện Linh hồn mình. Đấy là Thượng đế, Con người trở thành Thượng đế. Đọc tiếp »

h1

Siêu việt bảy Thể.

14.02.2015

image

Thưa Bạn đọc. Có một Sư cô, đã tu tập 10 năm. Rồi một lần, lên núi, nhập thất, cô đã đọc Osho, cô bị cuốn hút vào giáo lý, vào văn chương, vào tư tưởng của ông. Cô kiếm nguyên bản tiếng Anh để đọc. Đọc xong, cô quyết định dịch. Dịch được 3 cuốn, cô quyết định dời Chùa, xuống núi. Giờ cô Tu tại gia, đi vào trong và một mình.

Đây là một chương, trong tác phẩm Tâm lý Bí truyền. Tincaytinhyeu xin giới thiệu với Bạn đọc. Đây là bản Chuyển ngữ của một Người Thiền.

 
Đọc tiếp »

h1

Merry Christmas & Happy New Year 2015.

19.12.2014

Xin gửi tới Bạn đọc nhân Ngày Giáng sinh và Ngày Đầu Năm mới, lời Chúc mừng Sức khoẻ và An bình.

Mời nghe một bản nhạc quen thuộc của mùa Giáng Sinh: Ave Maria. Đây là giọng ca của Martin Hurkens người Holland, sinh 1953, ca sĩ Opera đã đoạt giải Holland Got Talent năm 2010.

Trân trọng.
Cư sĩ Minh Đạt.

h1

Vật lý học hiện đại và Siêu hình. Phần 3: Tất cả là Tâm, Luần hồi, Tái sinh, Phục sinh.

12.12.2014

image

Tất cả là Tâm”. Nếu có nhiều kiếp sống, vội gì ăn năn; con người có thể khất lần, có thể chờ, có thể trì hoãn. Cho nên để tránh sự trì hoãn này Jesus Christ và St. John the Baptist đã dạy phải Sám hối. Vì chẳng còn nhiều thời giờ, đừng trì hoãn, đừng khất lần, đừng chờ đợi, không còn thời gian và sẽ chẳng kịp giờ khi Thượng đế gọi về. Không biết tới Luân hồi và những kiếp sống khác. Điều đó mang lại cho Sám hối, cho Cầu nguyện một cường độ rất mạnh.

Jesus Christ đã sáng tạo ra điều này, vì hơn ai hết Ngài đã biết rằng: “Tất cả là Tâm”.

Đọc tiếp »

h1

Vật lý học hiện đại và Siêu hình. Phần 2: Tần số, Thiền và Chứng ngộ.

12.12.2014

image

Bất kể sự Cộng hưởng nào, vật bị cưỡng bức cũng bùng nổ và phát tích năng lượng trong nội tại của nó. Dầm cầu Cộng hưởng với nguồn cưỡng bức, năng lượng trong nội tại của nó bùng nổ và sự phá huỷ tức thì xảy ra. Sự Chứng ngộ, là Cộng hưởng Tối thượng thì Năng lượng phát tích và bùng nổ sẽ lớn khủng khiếp vô cùng. Luận sư Osho và kinh điển Buddhism cũng có nói về điều này. Khi một Buddha xuất hiện, khi một Christ xuất hiện, không chỉ Trái đất, Hệ Mặt trời mà cả Vũ trụ cũng tương tác, hân hoan, rộn ràng hơn trong vòng quay của Thượng đế. Thứ Năng lượng bùng nổ phát tich từ một Buddha, từ một Christ khi Chứng ngộ, mà tác động tới Trái đất, tới Hệ Mặt trời, tới Vũ trụ, chỉ có thể đó là Linh hồn.
Chứng ngộ là sự Sáng tạo cuối cùng trong hành tình sáng tạo và hoàn thiện của Linh hồn về với Linh hồn Tối thượng. Có phải chăng là vậy?

Đọc tiếp »

h1

Vật lý học hiện đại và Siêu hình. Phần 1: Tính Không, Prajnaparamitahridaya Sutra và Tao Te Ching.

12.12.2014

image

Không chỉ có những đệ tử của Gautama Buddha, những Bodhisattva linh thiêng, những Avalokita và Sariputra, trong hành trình xâu xa của Prajnaparamita, đã thấy được Tính Không; mà Lao Tzu, ông già cưỡi trâu xanh, vị Đạo sư của China, dường như cũng đã biết cái tương tự?

Đó là thứ không hình dáng, không màu sắc, không âm thanh, chuyển động liên tục khắp mọi nơi trong vũ trụ và tạo ra mọi thứ. Đó cũng phải chăng, là String, hoặc cái cơ bản hơn String, hoặc cái vi tế hơn String, cái không có Tự tính, cái có trước cả trời đất? Cái đã tạo nên các Thực tại, cái đã tạo nên Hiện hữu này?

Tao Te Ching và Prajnaparamitahridaya Sutra đã cũng trao truyền về một điều tương tự. Taoism và Buddhism cùng có sự tương đồng lớn lao về thứ đã tạo nên Thế giới này, thứ đã tạo nên các Thực tại khác nhau, thứ đã tạo ra Hiện hữu; đó phải chăng là String, hoặc cái cơ bản hơn String, hoặc cái vi tế hơn cả String; thứ không có Tự tính, thứ chỉ có Dao động và Chuyển động?

Đọc tiếp »